NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA NGÔN NGỮ VIỆT

Nghóa cuûa tieáng Vieät raát phong phuù neân seõ laø ñieàu raát khoù khaên cho nhöõng ai muoán hoïc tieáng Vieät. Moät töø, moät ngöõ duøng trong nhieàu tröôøng hôïp, nhieàu hoaøn caûnh khaùc nhau seõ cho nhieàu saéc thaùi nghóa khaùc nhau. Coù ñöôïc ñieàu naøy laø do söï chuyeån ñoåi vò trí ngoân ngöõ, töø ngoân ngöõ goït giuõa sang ngoân ngöõ sinh hoaït hay coøn goïi laø khaåu ngöõ. Hoaëc do ngöôøi söû duïng ngoân ngöõ muoán dieãn ñaït nghóa theo moät caùch khaùc ñeå nhaèm moät ñích naøo ñoù. Chính điều này đã làm tăng thêm sự phong phú cho tiếng Việt về từ cũng như về nghĩa, nhưng cũng gặp không ít rắc rối khi vùng này đến vùng kia giao tiếp.

1. ĐỘNG TỪ NỘI ĐỘNG VÀ NGOẠI ĐỘNG

Trong câu tiếng Việt, nếu xếp theo vị trí trước sau thì động từ luôn ở giữa, vừa làm hành động cho danh từ đứng trước và tác động vào danh từ đứng sau nó. Ở mặt tác động vào danh từ đứng sau,  có khi có giới từ chen vào giữa được gọi là động từ nội động ; có khi không có giới từ chen vào giữa thì gọi là động từ ngoại động. Dùng thiếu giới từ đối với động từ nội động hay thừa giới từ đối với động từ ngoại động đều dẫn đến câu sai ngữ pháp không rõ ý nghĩa.

Thông thường, động từ nội động mang một nghĩa gốc, còn động từ ngoại động mang nghĩa phái sinh hoặc nghĩa chuyển. Chúng ta cùng tìm hiểu một số trường hợp sau :

Chẳng hạn, với động từ “chạy” có những phát ngôn sau  : “Nó chạy theo tôi” thì động từ “chạy” hoàn toàn khác nghĩa với các từ “chạy” có trong : “Nó chạy tiền”, “nó chạy máy”, “nó chạy thầy chữa bệnh”, “nó chạy ăn cho mấy đứa nhỏ” hay “nó cưới con Thắm để chạy tang”.

Trong phát ngôn đầu thì động từ “ chạy” có nghĩa là di chuyển bằng hai chân với một tốc độ nhanh. Còn “ chạy” trong “chạy máy”  có nghĩa là điều khiển cho máy hoạt động. Riêng “chạy thầy, chạy ăn” thì có nghĩa là xoay sở mau chóng để có được thầy chữa bệnh và có được cái ăn. Đặc biệt, từ “ chạy” trong “chạy tang”  thì lại mang nghĩa là nhanh chóng tránh được cái tang không may để cưới vợ.

Với động từ “ đứng”, chúng ta xét mặt nghĩa của động từ nội động thì cho nghĩa là tư thế thân thẳng, chỉ có hai chân chạm mặt đất để phân biệt với các tư thế ngồi, nằm. Chẳng hạn, có phát ngôn sau : “ Cô ấy đứng dưới bến đò”. Đối với động từ “ đứng” ngoại động chúng ta hãy xét những phát ngôn sau :

- Anh ta giỏi thật, đứng bốn máy dệt !

- Anh ấy đang đứng lớp.

- Trời đang đứng gió.

Các  phát ngôn lần lượt có nghĩa là điều khiển cùng lúc nhiều máy, giảng dạy trên lớp, và gió ngừng hoạt động.

Hầu hết các động từ trong tiếng Việt đều có thể dùng với hai hình thức nội động hay ngoại động. Cùng một câu có dùng động từ hoặc ngoại động, hoặc nội động chỉ khác nhau một giới từ đều cho nghĩa khác nhau. Ví dụ nói : Anh ấy cưỡi ngựa và Anh ấy cưỡi trên ngựa thì cho hai nét nghĩa khác nhau. Ở phát ngôn đầu, từ cưỡi có nghĩa là điều khiển ngựa ; còn ở phát ngôn sau thì có nghĩa là ngồi trên lưng hoặc vai ngựa, hai chân dang ra hai bên hông ngựa. Chỉ thêm một giới từ “ trên” thì lại cho một nét nghĩa hoàn toàn mới. Điều này lý giải vì sao người ta nói : “Anh ấy cưỡi ngựa rất giỏi” mà không bao giờ nói : “Anh ấy cưỡi trên ngựa rất giỏi”.

Tiếng Việt của chúng ta rất độc đáo là nhờ những cách sử dụng như thế  !

2. CÁI ĂN TRONG THÀNH NGỮ VIỆT

Trong các hoạt động của con người nói chung, cái ăn cũng được xem như là một nghệ thuật, một nét văn hóa rất đặc trưng. Chẳng vì thế mà Nhà văn Tuấn Thừa Sắc rất hay nghiên cứu về cái ăn nói chung và của Hà Nội nói riêng đó sao ! Theo nhà văn thì muốn có một bữa ăn ngon mang được những đặc trưng nghệ thuật thì phải hội đủ bốn điều kiện đó là : đồ ăn ngon, người cùng ngồi ăn ngon, chỗ ngồi ăn ngon và tâm trạng ăn ngon. Thiếu một trong bốn yếu tố thì coi như không ngon, không có nghệ thuật. Rõ ràng ý tưởng nhà văn cho thấy chuyện ăn không phải đơn giản chút nào. Hàng loạt câu hỏi chúng ta có thể đặt ra cho cái ăn : ăn để làm gì, ăn như thế nào, ăn với ai, ăn những gì, ăn vào lúc nào…

Vì vậy ông bà ta có bảo nhau : “ Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Học nói, học gói, học mở thì có thể chấp nhận vì cũng có độ khó nhất định. Còn ăn phải học nữa sao ? Phải học và rất cần phải học. Nếu chúng ta “ ăn để sống” thì không cần học làm gì, vì chỉ cần lấy thức ăn cho vào miệng nhai đi, nhai lại và nuốt coi như xong. Nhưng nếu “ sống để ăn” thì khác và khi đó rất cần học cái ăn. Cái ăn lúc bấy giờ mang cả một yếu tố văn hóa của mỗi người, phải học yếu tố văn hóa trong cái ăn ấy chứ không phải đơn giản chỉ có học ăn thôi ! Mỗi người chúng ta cần phải “ ăn coi nồi, ngồi coi hướng”, chú ý đến mọi người trong bữa ăn không được có thái độ  “ Ăn thì ăn lựa những miếng ngon – Làm thì lựa việc cỏn con mà làm”. Khi đó mọi người xem mình là người khiếm nhã, “ Ham ăn hốt uống” mất lịch sự.  Chúng ta phải biết “Ăn lấy thơm lấy tho, chứ ai ăn lấy no lấy béo”. Sống trên đời chớ vì miếng ăn mà mất đi danh tiếng của mình phải giữ sao cho thơm tho, tốt đẹp. Không nên có những tư tưởng “ăn xổi ở thì” hay “ ngồi mát ăn bát vàng” mà phải lúc nào cũng nhớ “ Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”. Nếu một mực giữ mãi tư tưởng lười biếng thì chắc chắn có ngày sẽ bị cái đói hoành hành, mà “đói ăn vụng, túng làm liều” là lẽ đương nhiên.

Ngày xưa, ông bà ta đã ý thức rất cao để có được miếng ăn đâu phải là một chuyện dễ. “ Ai ơi bưng bát cơm đầy – Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”. Hoặc là “ Làm ruộng ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng”. Có  được miếng ăn phải “đầu tắt mặt tối”, “ Bán mặt cho đất bán lưng cho trời”, còn phải “ Một nắng hai sương”. Do đó, mỗi người  phải biết “ ăn bữa nay lo bữa mai” hay “ Tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn” mới được. Ông bà ta cũng dạy rằng “ ăn quả chín gìn quả xanh”.

Thực tế là vậy nhưng ông bà ta thường dùng cái ăn để ẩn  một ý nghĩa khác. Chẳng hạn, chỉ những việc lo chuyện bao đồng không được lợi lộc gì cả thì “ ăn cơm nhà lo chuyện người ta”, chỉ  việc chưa đủ lớn để quyết định một công việc của người lớn thì “ ăn chưa no, lo chưa tới”, chỉ những tính cách ba hoa, khoác lác thì “ăn không nói có”, chỉ sự hiền lành, thành thật thì có “ ăn chay niệm phật”, chỉ việc làm ăn được, giàu có lên thì “ ăn nên làm ra”, chỉ sự vong ơn bạc nghĩa thì “ ăn cháo đá bát”, chỉ sự gắn bó chặt chẽ nhau, mãi giữ thủy chung với nhau trong nghĩa vợ chồng thì có “ ăn đời ở kiếp”. Danh tướng đời Trần Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn nêu lên sự căm thù giặc của mình bằng thành ngữ “ ăn gan uống máu” trong câu hịch “ Chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, ăn gan uống máu quân thù. Dẫu trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng”.

Ngoài ra, trong kho tàng thành ngữ  Việt còn rất nhiều thành ngữ dùng từ “ăn” để ẩn chỉ những ý nghĩa khác nhau như thế nữa : ăn chắc mặc bền, ăn chung ở đụng, ăn lông ở lổ,. ăn miếng trả miếng, ăn hơn nói kém, ăn đất nằm sương, ăn cá bỏ lờ, ăn canh bỏ cặn, ăn bớt ăn xén, ăn cay nuốt đắng….Mỗi thành ngữ đều mang một nét nghĩa mới thoát khỏi nét nghĩa ăn ban đầu rất thú vị. Ôi quá tuyệt diệu cho ngôn ngữ Việt của chúng ta ! 

3. SỰ PHONG PHÚ TRONG CÁCH NÓI VỀ MÀU SẮC CỦA NGÔN NGỮ VIỆT

Cái hay của ngôn ngữ Việt so với các ngôn ngữ khác trên thế giới là do tiếng việt có được sáu thanh : sắc, hỏi, ngã, nặng, huyền và ngang. Chính nhờ sáu thanh này mà tiếng Việt miêu tả rất chính xác những trạng thái, những hoạt động, màu sắc... của từng sự vật, hiện tượng. Đặc biệt, trong tiếng Việt có nhiều từ, ngữ miêu tả về màu sắc rất đặc biệt, có lẽ chỉ ở tiếng Việt mới có mà thôi.

Với màu đỏ, chúng ta có : đỏ lòm, đỏ lét, đỏ hoe, đo đỏ, đỏ bầm, đỏ rực, đỏ ửng, đỏ chói, đỏ chạch, đỏ tươi. Mỗi màu đỏ ứng với một sự vật hiện tượng cụ thể. Như nói về màu đỏ của máu người Việt có thể dùng máu đỏ lòm hoặc máu đỏ tươi chứ không nói máu đo đỏ hay máu đỏ rực được.  Nói về màu đỏ của quả đu đủ thì nói là quả đu đủ đo đỏ ; nói về màu đỏ của mặt trời vào buổi sáng thì cho là mặt trời đỏ chói nhưng nói về màu đỏ của mặt trời vào buổi chiều thì mặt trời đỏ rực. Nói về đôi mắt vừa khóc bị đỏ thì nói đôi mắt đỏ hoe mà không nói là đỏ ửng vì từ này dùng cho miêu tả đôi má của con người gái. Khi đôi mắt bị bệnh nhậm có màu đỏ thì nói đôi mắt đỏ chạch. Riêng từ đỏ bầm thì dùng để miêu tả những loại trái cây có màu đỏ nhưng pha một chút màu đen như trái sắn, trái trâm ở Nam bộ ( có nơi gọi là màu huyết dụ ). Người nước ngoài khi sử dụng tiếng Việt cũng rất khó phân biệt được những yếu tố đặc biệt này. Họ chỉ có một màu đỏ duy nhất như trong tiếng Hán Việt  thì có từ hồng, trong tiếng Anh thì có từ red.

Với màu xanh, chúng ta có : xanh lam, xanh lơ, xanh da trời, xanh nước biển, xanh lá cây, xanh đọt chuối, xanh ngọc, xanh dương, xanh bông phấn, xanh xanh, xanh ngắt, xanh lè, xanh lét, xanh lá mạ, xanh rêu, ... Mỗi một màu xanh tương ứng với một sự vật hiện tượng khác nhau. Chẳng hạn, nước biển có màu xanh nước biển riêng, cây mạ có màu xanh lá mạ, đọt chuối có màu xanh đọt chuối, lá cây có màu xanh lá cây riêng, không thể lẫn lộn giữa các màu được. Ngòai những màu xanh đặc trưng đó, các màu còn lại như : xanh lè, xanh lét, xanh ngắt, xanh xanh thì diễn tả những mức độ khác nhau  màu xanh của sự vật hiện tượng. Ví dụ diễn tả một người bị bệnh sốt rét mới khỏi thì nói “thân hình  xanh lè xanh lét ” hay “ thân hình xanh như tàu lá chuối”, hoặc một người quá sợ thì nói “ mặt nó xanh lét không còn chút máu”. Nguyễn Khuyến thì miêu tả da trời lúc nào cũng “xanh ngắt”. Thi sĩ họ Hàn thì miêu tả “ xanh như ngọc” dành cho vườn tược xứ Huế. Xuân Diệu thì miêu tả mọi vật vào xuân xanh non tơ, xanh mơn mỡn. Mỗi nhà thơ có một màu xanh riêng cho thơ của mình.

Với màu trắng, chúng ta có trắng tươi, trắng tinh, trắng toát, trắng trong, trắng sát, trắng dã, trăng trắng, .... Còn màu vàng thì có vàng khè, vàng hoe, vàng tươi, ... Màu tím có tím ngắt, tím sen, tim tím, tím lịm, ....Ứng với từng hoàn cảnh, từng hiện tượng sự vật sẽ có những từ miêu tả màu sắc riêng. Thế mới thấy tiếng Việt của chúng ta vô cùng phong phú, muốn hiểu hết không phải dễ nhưng chịu khó học hỏi thì cũng không khó lắm!

                                                     Lê Văn Dũng

 

 

Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 150
Hôm qua : 497
Tháng 09 : 2.846
Năm 2020 : 37.708