ĐỀ THI VÀ ĐÁP ÁN MÔN NGỮ VĂN LỚP 11 HỌC KỲ 1 NĂM HỌC 2016-2017

ĐỀ THI VÀ ĐÁP ÁN MÔN NGỮ VĂN LỚP 11 HỌC KỲ 1 NĂM HỌC 2016-2017
Tài liệu đính kèm: Tải về

SỞ GD& ĐT TP.CẦN THƠ                        KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I

TRƯỜNG THPT TRUNG AN                      Năm học:  2016 – 2017                                                                                           MÔN: NGỮ VĂN - Lớp 11 THPT

                                           Thời gian làm bài: 120 phút, không kể phát đề.           

 

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

    Đọc bài thơ sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:

 

Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,

Một bàn cờ thế phút sa tay.

Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,

Mất ổ bầy chim dáo dác bay.

Bến Nghé của tiền tan bọt nước,

Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.

Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,

Nở để dân đen mắc nạn này ?

                                       (Chạy giặc, Nguyễn Đình Chiểu, SGK Ngữ Văn – Tập 1, trang 49)

Câu 1: Bài thơ được viết theo phong cách ngôn ngữ nào ? (0.5 điểm)

Câu 2: Hãy xác định phương thức biểu đạt của bài thơ trên. (0.5 điểm)

Câu 3: Hãy chỉ ra các biện pháp nghệ thuật của bài thơ. Nêu tác dụng của các biện pháp nghệ thuật ấy. (1.0 điểm)

        Câu 4: Tâm trạng, tình cảm và thái độ của tác giả được thể hiện như thế nào qua bài thơ trên? (1.0 điểm)

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

    Câu 1 : (3,0 điểm)

Viết bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của anh (chị) về lời dạy của Hồ Chí Minh : “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”.

    Câu 2 : (4,0 điểm)

 Phân tích bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương

 

Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không.

 

 (SGK Ngữ Văn – Tập 1, trang 29, 30)

 

 

                       ......................HẾT.......................

 

 

 

HƯỚNG DẪN CHẤM

 

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. (0.5 điểm)

Câu 2: Phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, biểu cảm. (0.5 điểm)

Câu 3: Các biện pháp nghệ thuật của bài thơ: phép đối, đảo ngữ, từ láy, câu hỏi

tu từ,... (0.5 điểm)

        Tác dụng: Tái hiện một cách cụ thể, sinh động cảnh chạy giặc hoảng loạn, gấp gáp,

        bi thương. (0.5 điểm)

        Câu 4:  (1,0 điểm) Tâm trạng, tình cảm và thái độ của tác giả :

           - Đau lòng, xót thương trước cảnh đất nước bị thực dân tàn phá, nhân dân lầm than.

- Căm thù giặc sâu sắc.

- Mỉa mai, thất vọng trước sự nhu nhược của triều Nguyễn.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

     Câu 1 : (3.0 điểm)

            - Yêu cầu kỹ năng :

       + Biết cách làm bài văn nghị luận về một tư tưởng đạo lý.

       + Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, diễn đạt.

       + Khuyến khích những bài viết sáng tạo, độc đáo, có cảm xúc.

           - Yêu cầu về kiến thức :

Trên cơ sở hiểu biết về lời dạy của Hồ Chí Minh học sinh làm sáng tỏ ý nghĩa của lời dạy đồng thời trình bày được suy nghĩ, cảm nhận, bài học rút ra từ lời dạy đó.

* Gợi ý:

- Giải thích:

+ Tài: là tài năng, là năng lực, kĩ năng, kĩ xảo của con người,...

+ Đức: là đạo đức, là cách cư xử hợp lẽ phải, đạo lí, sống có trách nhiệm với mọi người, là sự biểu hiện của nét đẹp nhân cách con người,...

- Có tài, không có đức -> vô dụng 

- Có đức, không có tài -> làm gì cũng khóa

->  Lời khuyên của Bác khẳng định mối quan hệ giữa tài và đức.
-  Phân tích - chứng minh :
       + Có tài mà không có đức là người vô dụng:
              Người có tài nhưng lại không đem tài để phục vụ nhân dân, làm giàu đất nước thì cái tài đó hoàn toàn vô ích. Người có tài mà chỉ nhằm thu vén lợi ích cá nhân, phản bội Tổ quốc, đi ngược lại lợi ích nhân dân thì người đó cũng trở thành vô dụng, thậm chí là có tội. 
- Người có tài mà không có đức thường kiêu căng hợm hĩnh, thậm chí xảo quyệt, gian ngoa và dễ trở thành kẻ xấu xa, gây tác hại, nguy hiểm cho gia đình, xã hội ( Dẫn chứng)
      + Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó:
             Người có đức thường được mọi người kính mến, quý trọng; nhưng có đức mà không có tài thường khó thực hiện được chức trách, khó hoàn thành nhiệm vụ, khó đạt kết quả cao trong công việc.
            Tài năng cũng có tầm quan trọng không kém. Không có tài năng thì con người làm việc gì cũng khó khăn, thậm chí làm hỏng việc và làm hại đến sự nghiệp chung. 
     + Đức và tài đều cần thiết đối với mỗi con người, làm nên giá trị con người. 
* Dẫn chứng: học sinh chọn phân tích một tấm gương tiêu biểu về các nhân vật toàn đức - toàn tài : Louis Passteur, Hồ Chí Minh, Ngô Bảo Châu …để thấy rõ tài và đức luôn quan trọng và cần thiết ) 

-  Đánh giá- mở rộng : 
          + “Đức” và “tài” là hai mặt không thể thiếu được trong phẩm chất của người lao động. Hai mặt này không loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau tạo nên phẩm chất của con người toàn diện. Đức và tài bổ sung, hỗ trợ cho nhau để con người trở thành toàn diện và có thể làm việc, cống hiến một cách hiệu quả nhất.
          + Phê phán những kẻ có tài mà hợm hĩnh, kiêu căng, chỉ mưu cầu lợi ích cá nhân hoặc những người có đức nhưng tài năng, năng lực còn kém cỏi mà không chịu học tập, phấn đấu.
          + Đức và tài đều là kết quả của nhiều yếu tố. Nếu không tu dưỡng, rèn luyện thì tài và đức đều không phát triển được và có thể bị mai một .

-  Bài học nhận thức và hành động:
           + Lời dạy của Bác là kim chỉ nam cho mọi hoạt động, rèn luyện cho mọi thế hệ.

           + Mỗi người phải không ngừng học tập, tu dưỡng, phải rèn đức luyện tài để trở thành người lao động toàn diện, có ích cho đất nước.

 

Biểu điểm

- Điểm 3 : Nêu được các ý như trên. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc và sáng tạo; có thể còn vài sai sót về chính tả, dùng từ.

- Điểm 2: Nêu được cơ bản các ý như trên. Bố cục rõ  ràng, lập luận tương đối chặt chẽ; còn mắc vài sai sót về chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

- Điểm 1: Chưa làm rõ các ý trên. Bài viết còn sơ sài, mắc nhiều lỗi về chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

- Điểm 0,5: Chưa hiểu đề, sai lạc kiến thức, mắc nhiều lỗi về diễn đạt, chính tả.

- Điểm  0: Không làm bài hoặc hoàn toàn lạc đề.

 

Câu 2 : (4.0 điểm)

           - Yêu cầu kỹ năng :

       + Biết cách làm bài văn nghị luận văn học.

       + Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, diễn đạt.

       + Khuyến khích những bài viết sáng tạo, độc đáo, có cảm xúc.

           - Yêu cầu về kiến thức :

Trên cơ sở hiểu biết về bài thơ Thương vợ và tác giả Trần Tế Xương học sinh đi sâu phân tích tác phẩm đồng thời trình bày được suy nghĩ, cảm nhận riêng của mình về bài thơ.

* Gợi ý:

      a. Mở bài:

Giới thiệu khái quát tác giả Trần Tế Xương và  bài thơ Thương vợ. Dẫn dắt vào bài thơ.

b. Thân bài:

  Hai câu đề:

          - Hoàn cảnh làm ăn:

           “Quanh năm buôn bán ở mom sông”

          + Quanh năm: suốt từ đầu năm đến cuối năm, lúc nào cũng giống lúc nào " không        lúc nào nghỉ (thời gian tuần hoàn)

+ Quanh năm        vất vả, gian truân, gập ghềnh,

+ Mom sông            nguy hiểm, bất trắc.

 

° Bà Tú làm việc miệt mài, gian nan, nguy hiểm.

 Gánh nặng đè lên vai bà Tú:

+ 5 con với 1 chồng (6 người không kể bà) " 1 người gánh 6 người

+ Nuôi đủ: có 2 cách hiểu

" với ông Tú: đủ ăn, đủ uống, đủ mặc

" vừa đủ: không thiếu, không thừa

ª bà Tú là người đảm đang, tháo vát, chu đáo với chồng, với con.

à Yêu thương, quý trọng, tri ân vợ, than thở dùm vợ, thể hiện tấm lòng thương cảm xót xa đối với vợ.

 Hai câu thực

+ Lặn lội thân cò: đồng nhất thân cò với thân phận người vợ, nhấn mạnh sự vất vả, gian truân đến tội nghiệp

+ NT đảo ngữ: con cò lặn lội 1 lặn lội thân cò " nhấn mạnh nỗi vất vả của bà Tú, dù ở hoàn cảnh nào đông đúc hay hoang vắng, heo hút bà vẫn cần mẫn, miệt mài.

“Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

" điều kiện buôn bán: chen chúc, tranh giành vì của khó người đông.

 Hai câu luận

- Thành ngữ “Một duyên hai nợ”: Duyên một mà nợ đến hai. Tú Xương xem mình là nợ đời mà bà Tú phải gánh

- Vì vậy nên: Âu đành phận " cam chịu bởi định mệnh đó

Và “dám quản công” không kể lễ, phàn nàn

- NT: Đảo ngữ “Năm nắng mười mưa” " tăng thêm sự vất vả chịu đựng của bà Tú

ª Bà Tú là người giàu đức hi sinh, chịu thương, chịu khó. Đây là nét đẹp truyền thống của phụ nữ Việt Nam

Hai câu kết

   - Thói đời : lề lối xấu, xã hội đen bạc

   - Chửi mình: vô tích sự

   - Chửi đời: đen bạc, giá trị hợp lí của cuộc sống bị đảo lộn, người có tài như Tú Xương không được chấp nhận  

è Nỗi đau đời và tấm chân tình của người chồng - thi nhân…Nhân cách cao đẹp của Tú Xương được thể hiện qua ngòi bút chân thành và cảm động

 Nghệ thuật

       - Vận dụng sáng tạo ngôn ngữ và thi liệu văn hóa dân gian

       - Kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và trào phúng

c. Kết bài : Với tình cảm thương yêu, quý trọng, tác giả đã ghi lại một cách xúc động, chân thực hình ảnh người vợ tần tảo, giàu đức hi sinh. Thương vợ là bài thơ tiêu biểu cho thơ trữ tình của Trần Tế Xương : cảm xúc chân thành, lời thơ giản dị mà sâu sắc.

 

Biểu điểm

- Điểm 6 - 7: Nêu được các ý như trên. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc và sáng tạo; có thể còn vài sai sót về chính tả, dùng từ.

- Điểm 4 - 5: Nêu được cơ bản các ý như trên. Bố cục rõ  ràng, lập luận tương đối chặt chẽ; còn mắc vài sai sót về chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

- Điểm 2 - 3: Chưa làm rõ các ý trên. Bài viết còn sơ sài, mắc nhiều lỗi về chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

- Điểm  1: Chưa hiểu đề, sai lạc kiến thức, mắc nhiều lỗi về diễn đạt, chính tả.

- Điểm  0: Không làm bài hoặc hoàn toàn lạc đề.

 

-----------------------------------------------

Tác giả: Trần Thanh Trường
Nguồn: cantho.edu.vn
Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 1
Hôm qua : 165
Tháng 11 : 4.536
Năm 2019 : 34.853